Nghị định 253/2026/NĐ-CP mở thêm hai khoản giảm trừ mới cho người làm công ăn lương: chi phí khám chữa bệnh và chi phí giáo dục – đào tạo của bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc. Nhưng điều kiện đi kèm khá chặt, và có một hệ quả mà nhiều người lao động chưa biết: muốn hưởng giảm trừ này thì không được ủy quyền quyết toán cho công ty.
Ngày 18/9/2026, Thuế Thành phố Hà Nội ban hành Công văn số 47199/HAN-QLDN5 gửi Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các phường, xã và các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên địa bàn, tổng hợp các quy định liên quan để thống nhất thực hiện.
Tóm tắt nhanh
| Khoản chi | Mức giảm trừ tối đa và phạm vi |
|---|---|
| Y tế | Tổng không quá 23 triệu đồng/năm — chi khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước, thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả. Phải có hóa đơn và bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh |
| Giáo dục – đào tạo | Tổng không quá 24 triệu đồng/năm — học phí mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, đại học và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước. Phải có hóa đơn, chứng từ |
1. Căn cứ: khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP
Khoản 2 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, gồm:
- Điểm a — các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả, tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
- Điểm b — các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục – đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đào tạo.
Bốn giới hạn phạm vi cần đọc kỹ ngay từ quy định gốc:
- Chỉ áp dụng cho cá nhân cư trú.
- Chỉ giảm trừ vào thu nhập từ tiền lương, tiền công — không phải mọi loại thu nhập.
- Chỉ chi phí phát sinh tại cơ sở trong nước.
- Với y tế, chỉ phần thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả — dịch vụ ngoài danh mục không được tính.
Mức trần 23 triệu và 24 triệu đồng được quy định là tổng mỗi năm cho khoản chi của người nộp thuế và người phụ thuộc. Văn bản không đặt mức riêng cho từng người phụ thuộc.
2. Ba điều kiện bắt buộc về chứng từ
Khoản 3 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP đặt ba điều kiện, phải đáp ứng đủ:
Điều kiện a — có hóa đơn, chứng từ theo quy định. Riêng chi y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều kiện b — hóa đơn, chứng từ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc. Hóa đơn không có thông tin cá nhân thì không dùng được.
Điều kiện c — không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
Điều kiện c có phạm vi rất rộng: bất kỳ phần nào được bảo hiểm (kể cả bảo hiểm sức khỏe do công ty mua), công ty hỗ trợ, hay người khác trả thay đều bị loại. Chỉ phần người lao động trực tiếp tự chi trả mới được tính.
3. Làm sao để có hóa đơn đúng điều kiện tại bệnh viện
Đây là điểm thực tế nhất của công văn, vì cơ chế lập hóa đơn tại cơ sở y tế mặc định không ghi tên người bệnh.
Theo điểm m khoản 4 Điều 9 Nghị định số 254/2026/NĐ-CP, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có sử dụng phần mềm quản lý và in phiếu thu tiền, nếu khách hàng không có nhu cầu lấy hóa đơn thì cuối ngày căn cứ thông tin khám, chữa bệnh và phiếu thu tiền để tổng hợp lập hóa đơn cho các dịch vụ y tế thực hiện trong ngày. Trường hợp khách hàng yêu cầu lập hóa đơn điện tử thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập hóa đơn điện tử giao cho khách hàng.
Tiết b khoản 4 Phụ lục kèm theo Nghị định số 254/2026/NĐ-CP quy định: người mua là người tiêu dùng cung cấp tên, địa chỉ, số định danh cá nhân thì trên hóa đơn phải thể hiện các thông tin đó; không cung cấp thì trên hóa đơn thể hiện rõ “Bán cho người tiêu dùng”.
Ghép hai quy định với điều kiện b khoản 3 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP, hệ quả rất cụ thể: người bệnh phải chủ động yêu cầu xuất hóa đơn và cung cấp thông tin cá nhân ngay tại quầy thu tiền. Nếu không, chi phí đó sẽ rơi vào hóa đơn tổng hợp cuối ngày, không có tên người mua, và không đáp ứng điều kiện giảm trừ.
Về bảng kê chi phí: Quyết định số 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 của Bộ Y tế quy định trong một lượt khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở lập 01 bảng kê để lưu hồ sơ và 01 bảng kê cung cấp cho người bệnh. Cơ sở đã triển khai bệnh án điện tử thì lập bảng kê điện tử và cung cấp cho người bệnh qua phương tiện điện tử, không phải lập bảng kê giấy; bảng kê điện tử có ký số đầy đủ có giá trị tương đương bản giấy.
4. Những khoản không được tính giảm trừ
Khoản 4 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP loại trừ hai nhóm để tránh được hưởng hai lần:
Nhóm 1 — các khoản đã không tính vào thu nhập chịu thuế theo điểm b, g, i khoản 4 Điều 8. Công văn nêu rõ đây là các khoản thu nhập không mang tính chất tiền lương, tiền công, gồm:
- Điểm b — tiền hỗ trợ của người sử dụng lao động cho việc khám bệnh, chữa bệnh hiểm nghèo cho người lao động và thân nhân (con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ hoặc cha chồng, mẹ chồng; cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi). Mức không tính vào thu nhập chịu thuế là số tiền hỗ trợ thực tế theo hóa đơn, chứng từ nhưng tối đa không quá số tiền trả viện phí sau khi đã trừ phần tổ chức bảo hiểm chi trả (nếu có).
- Điểm g — học phí cho con của người lao động nước ngoài học tại Việt Nam, con của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài học tại nước ngoài, theo bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông, do người sử dụng lao động trả thay hoặc thanh toán.
- Điểm i — khoản chi do người sử dụng lao động trả thay tiền đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc chuyên môn, nghiệp vụ hoặc theo kế hoạch của người sử dụng lao động.
Nhóm 2 — chi y tế đã được giảm thuế theo Điều 40. Công văn xác định các khoản chi cho y tế (bệnh hiểm nghèo) theo Điều 40 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP thuộc trường hợp giảm thuế, nên không được tính thêm vào các khoản giảm trừ.
Nguyên tắc chung: một khoản chi chỉ được hưởng ưu đãi thuế một lần, theo một cơ chế.
5. Hệ quả lớn nhất: phải tự quyết toán
Khoản 3 Điều 51 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định: trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo theo Điều 40, hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ theo Điều 49 mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế, thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế.
Công văn 47199/HAN-QLDN5 diễn đạt thẳng: người lao động có yêu cầu giảm trừ đối với chi phí giáo dục, y tế thì không được ủy quyền quyết toán cho cơ quan chi trả, phải tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
Với doanh nghiệp, đây là thay đổi quy trình đáng kể: số người lao động ủy quyền quyết toán sẽ giảm, và bộ phận nhân sự cần xác định sớm ai sẽ tự quyết toán để phối hợp cung cấp chứng từ khấu trừ thuế.
6. Ví dụ minh họa
Các ví dụ dưới đây giả định khoản chi phát sinh từ ngày 01/7/2026 trở đi và người nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Ví dụ 1 — Chi y tế có phần bảo hiểm chi trả
Anh A chi khám, chữa bệnh cho bản thân và con (người phụ thuộc) tổng cộng 30 triệu đồng, đều thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả, tại bệnh viện trong nước. Hóa đơn ghi tên anh A, có bảng kê chi phí theo mẫu. Bảo hiểm sức khỏe do công ty mua đã chi trả 10 triệu đồng.
- Phần bảo hiểm chi trả 10 triệu đồng: bị loại theo điểm c khoản 3 Điều 49.
- Phần anh A tự chi trả: 20 triệu đồng, thấp hơn mức trần 23 triệu đồng.
- Khoản được giảm trừ: 20 triệu đồng. Anh A phải tự quyết toán thuế.
Ví dụ 2 — Học phí vượt mức trần
Chị B đóng học phí cho con học tiểu học tại trường trong nước 40 triệu đồng, tự chi trả toàn bộ, hóa đơn ghi thông tin chị B.
- Khoản được giảm trừ: 24 triệu đồng — bằng mức trần tại điểm b khoản 2 Điều 49. Phần vượt 16 triệu đồng không được tính.
Ví dụ 3 — Người lao động nước ngoài, công ty trả học phí cho con
Anh C là người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Con anh C học trường quốc tế tại Hà Nội, học phí do công ty trả thay.
- Khoản học phí này thuộc điểm g khoản 4 Điều 8, đã không tính vào thu nhập chịu thuế của anh C.
- Không được tính thêm vào khoản giảm trừ theo khoản 4 Điều 49.
Đây là trường hợp đặc biệt cần lưu ý với doanh nghiệp FDI: học phí trường quốc tế cho con chuyên gia nước ngoài đã được ưu đãi theo một cơ chế khác, và không thể cộng dồn.
Ví dụ 4 — Hóa đơn không có thông tin người bệnh
Chị D đi khám tại phòng khám, thanh toán 5 triệu đồng nhưng không yêu cầu xuất hóa đơn. Phòng khám tổng hợp lập hóa đơn cuối ngày theo điểm m khoản 4 Điều 9 Nghị định số 254/2026/NĐ-CP, ghi “Bán cho người tiêu dùng”.
- Hóa đơn không thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc → không đáp ứng điều kiện b khoản 3 Điều 49.
- Không được giảm trừ, dù khoản chi là có thật và thuộc danh mục bảo hiểm y tế chi trả.
7. Việc doanh nghiệp cần làm
Công văn đề nghị doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động phổ biến, tuyên truyền đến toàn bộ người lao động. Trên thực tế, các việc nên làm gồm:
- Thông báo cho người lao động về điều kiện hóa đơn — đặc biệt là việc phải chủ động yêu cầu xuất hóa đơn có tên tại cơ sở y tế và giữ bảng kê chi phí.
- Rà soát chính sách phúc lợi hiện có: bảo hiểm sức khỏe, hỗ trợ viện phí, trả thay học phí, hỗ trợ đào tạo. Các khoản công ty đã chi trả hoặc hỗ trợ sẽ không được người lao động dùng để giảm trừ.
- Điều chỉnh quy trình quyết toán TNCN: xác định sớm người lao động nào muốn hưởng giảm trừ y tế, giáo dục để loại khỏi danh sách ủy quyền quyết toán và chuẩn bị chứng từ khấu trừ thuế.
- Với doanh nghiệp FDI có chuyên gia nước ngoài: lưu ý riêng Ví dụ 3 — học phí cho con do công ty trả thay đã có cơ chế riêng tại điểm g khoản 4 Điều 8.
Miễn trừ trách nhiệm
Nội dung bài viết được xây dựng trên cơ sở Công văn số 47199/HAN-QLDN5 ngày 18/9/2026 của Thuế Thành phố Hà Nội về việc thực hiện chính sách thuế về các khoản giảm trừ thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản chi cho y tế và giáo dục, cùng các quy định được trích dẫn trong công văn:
- Khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 49; điểm b, g, i khoản 4 Điều 8; khoản 3 Điều 51 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân;
- Khoản 1 Điều 4; khoản 2, khoản 4 Điều 9; tiết b khoản 4 Phụ lục Nghị định số 254/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử;
- Điều 2 Quyết định số 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 của Bộ Y tế ban hành mẫu bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
Một số nội dung chưa được làm rõ trong công văn và cần theo dõi thêm:
- Chi phí phát sinh trước ngày 01/7/2026. Công văn nêu các quy định giảm trừ áp dụng “kể từ ngày 1/7/2026” nhưng không hướng dẫn việc các khoản chi phát sinh trong 6 tháng đầu năm 2026 có được tính vào kỳ quyết toán năm 2026 hay không. Người nộp thuế cần đối chiếu điều khoản hiệu lực và chuyển tiếp của Nghị định số 253/2026/NĐ-CP.
- Danh mục do bảo hiểm y tế chi trả và danh mục bệnh hiểm nghèo được xác định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế, không nằm trong công văn.
- Điều 40 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP về giảm thuế do bệnh hiểm nghèo chỉ được công văn viện dẫn, không trích nguyên văn.
- Bài viết dựa trên phần nội dung được trích trong công văn, không dựa trên toàn văn Nghị định số 253/2026/NĐ-CP và Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15.
Công văn số 47199/HAN-QLDN5 là văn bản hướng dẫn thực hiện của Thuế Thành phố Hà Nội, gửi các đơn vị trên địa bàn thành phố, không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Người nộp thuế tại địa phương khác nên đối chiếu với hướng dẫn của cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế văn bản pháp luật gốc và không cấu thành ý kiến tư vấn cho một trường hợp cụ thể. Doanh nghiệp và cá nhân nên đối chiếu với văn bản hiện hành tại thời điểm áp dụng và trao đổi với chuyên gia tư vấn trước khi ra quyết định.
TrustlineAX — Tư vấn thuế và kế toán cho doanh nghiệp tại Việt Nam.